Như vậy, với tình hình xuất khẩu cao su trong thời gian vừa qua, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong quý II/2011 ước đạt khoảng 284 nghìn tấn với kim ngạch khoảng 1.254 triệu USD; tăng 17,7% về lượng và tăng 90,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010.
Diễn biến về giá: Giá trung bình xuất khẩu cao su của nước ta trong tháng 5/2011 đã giảm nhẹ xuống mức 4.351 USD/tấn (giảm 0,07%) so với mức 4.354 USD/tấn của tháng 4/2011. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2010 vẫn tăng tới 51,92%.
Hiện nay, giá cao su trên thị trường thế giới đã sụt giảm tới hơn 3%. Giá cao su giảm là do lo ngại nhu cầu giảm sút khi kinh tế Nhật và Mỹ tăng trưởng chậm lại cùng khả năng nâng lãi suất cơ bản của Trung Quốc.
Giá cao su giao tháng 11 tại Tokyo giảm 3,3% vào sáng nay, xuống 365 Yên/kg.
Giá cao su RSS3 của Thái Lan giảm mạnh, xuống dưới mức 5 USD, hiện chỉ 4,95 USD/kg.
Cao su SMR20 của Malaysia giảm tương tự xuống 4,55 USD/kg, còn SIR20 của Indonesia giảm 0,02 USD xuống 2,06 USD/lb.
Giá cao su RSS4 tại Ấn Độ giảm 50 Rupee xuống 22.250 Rupee/100 kg trên thị trường chủ chốt Kottayam ở Kerala.
Việc giá cao su giảm mạnh tại các nước sản xuất chính cũng tác động mạnh tới giá cao su kỳ hạn. Thị trường cao su dường như sẽ hạ nhiệt trong quý này do sự không ổn định của kinh tế Hoa Kỳ, các vấn đề nợ trong khu vực đồng Euro và ngoài ra còn có sự thắt chặt tiền tệ của Trung Quốc.
Dự báo, giá cao su thiên nhiên sẽ không có khả năng giảm xuống dưới 4 USD/kg trong quý 3 do nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới vẫn vững. Nhu cầu từ các nhà sản xuất lốp xe ở các thị trường mới nổi lên về tiêu thụ cao su như Trung Đông, Braxin và Nga cũng sẽ hỗ trợ cho giá cao su.
Về thị trường xuất khẩu: Mặc dù xuất khẩu cao su trong tháng 5/2011 sang Trung Quốc tiếp tục giảm khá nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục là đối tác chính trong xuất khẩu cao su của Việt Nam, với lượng đạt 18,38 nghìn tấn và kim ngạch đạt 75,88 triệu USD; giảm cả lượng và kim ngạch lần lượt là 16,8% và 15,07% so với tháng 4/2011. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2010 lại tăng khá cao cả về lượng và kim ngạch lần lượt là 102,18% và 215,6%. Như vậy, tính đến hết tháng 5/2011, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc tăng 23,02% về lượng và tăng 93,46% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010; đạt 143,95 nghìn tấn với 609,3 triệu USD.
Hiện nay, sản lượng giao dịch giữa các doanh nghiệp và thương gia Việt Nam với phía Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái - Đông Hưng khá hạn chế, chỉ đạt bình quân 150 tấn/ngày, so với 800 tấn/ngày trước đây. Như vậy, tình trạng bán cao su sang Trung Quốc đã giảm tới 75 - 80% so với bình thường đã kéo dài 2 tuần nay. Dù lượng hàng xuất đi ít nhưng giá tuần qua đã hồi phục trở lại, đạt xấp xỉ 31.000 NDT/tấn, tăng 1.000 NDT so với tuần trước đó. Hiện các doanh nghiệp Trung Quốc đang khắc phục dần từng bước khó khăn bằng cách huy động vốn bằng nhiều cách như đề nghị các nhà máy sản xuất lốp xe ứng vốn theo tỷ lệ số hàng nguyên liệu cần mua; vận động đầu tư của người có tiền nhàn rỗi rồi chia lợi nhuận theo thỏa thuận. Dự báo, tình trạng trì trệ về xuất khẩu cao su sang Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái sẽ kéo dài đến hết tháng 6 và hoạt động giao thương mặt hàng cao su giữa hai bên sẽ sôi động trở lại trong tháng 7.
Trong tháng 5/2011, xuất khẩu cao su sang thị trường Braxin có mức tăng trưởng cao nhất, tăng tới 453,47% về lượng và 392,95% về kim ngạch so với tháng trước; đạt 559 tấn với kim ngạch đạt 2,58 triệu USD. Ngoài ra, xuất khẩu cao su sang 4 thị trường khác cũng đạt mức tăng trưởng trên 100% so với tháng 4/2011 như: Anh (tăng 153,75% về lượng và 152,44% về kim ngạch); Bỉ (tăng 144,12% về lượng và 100% về kim ngạch); CH Séc (tăng 122,22% về lượng và 151,83% về kim ngạch); Indonesia (tăng 121,69% về lượng và 163,82% về kim ngạch).
Bên cạnh đó, xuất khẩu cao su sang một số thị trường khác bị sụt giảm như: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Italia,… Cụ thể: Nga (giảm 31,6% về lượng và 36,27% về kim ngạch); Thổ Nhĩ Kỳ (giảm 33,95% về lượng và 26,6% về kim ngạch); Tây Ban Nha (giảm 29,18% về lượng và 34,83% về kim ngạch); Italia (giảm 13% về lượng và 18,02% về kim ngạch)…Đặc biệt, không có lô hàng nào được xuất khẩu sang 2 thị trường Singapore và Ucraina trong tháng này.
Nhìn chung, xuất khẩu cao su của nước ta 5 tháng đầu năm 2011 sang hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm 2010. Đáng chú ý, xuất khẩu sang thị trường Phần Lan tuy chỉ đạt 806 tấn với kim ngạch đạt hơn 4,2 triệu USD nhưng lại có mức tăng trưởng đột biến so với cùng kỳ năm 2010 (tăng tới 1.915% về lượng và 2.991,91% về kim ngạch). Kim ngạch xuất khẩu cao su sang một số thị trường khác có mức tăng từ 5,15% - 390,95%.
Thị trường xuất khẩu cao su tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2011
(Lượng: tấn; Kim ngạch:1000 USD)
|
Thị trường
|
T5/11
|
So T4/11
(%) |
So T5/10
(%) |
5T/11
|
So 5T/10
(%) |
|
L |
KN |
L |
KN |
L |
KN |
L |
KN |
L |
KN |
|
Trung Quốc |
18.386 |
75.882 |
-16,80 |
-15,07 |
102,18 |
215,60 |
143.952 |
609.303 |
23,02 |
93,46 |
|
Malaysia |
3.806 |
16.157 |
4,07 |
-3,76 |
76,86 |
187,54 |
15.657 |
70.776 |
179,69 |
390,95 |
|
Hàn Quốc |
1.941 |
8.337 |
16,02 |
1,92 |
8,80 |
48,32 |
11.703 |
50.494 |
22,85 |
103,52 |
|
Đức |
1.850 |
9.653 |
43,19 |
48,48 |
83,53 |
186,69 |
8.678 |
43.534 |
46,12 |
159,64 |
|
Đài Loan |
1.577 |
7.707 |
49,62 |
46,94 |
20,29 |
90,11 |
9.226 |
43.942 |
26,44 |
110,88 |
|
Nhật Bản |
723 |
3.819 |
38,77 |
30,39 |
33,89 |
105,32 |
3.875 |
20.072 |
13,64 |
96,13 |
|
Nga |
712 |
3.550 |
-31,60 |
-36,27 |
-57,37 |
-33,03 |
4.278 |
22.431 |
-36,51 |
5,15 |
|
Indonesia |
654 |
2.166 |
121,69 |
163,82 |
-14,51 |
33,21 |
3.249 |
10.243 |
45,50 |
115,78 |
|
Mỹ |
636 |
2.478 |
76,18 |
42,41 |
-0,31 |
44,49 |
7.020 |
27.232 |
41,05 |
140,23 |
|
Braxin |
559 |
2.588 |
453,47 |
392,95 |
99,64 |
171,56 |
1.801 |
8.715 |
83,03 |
209,70 |
|
Thổ Nhĩ Kỳ |
498 |
2.492 |
-33,95 |
-26,60 |
-32,79 |
5,91 |
4.096 |
19.766 |
24,12 |
108,59 |
|
Tây Ban Nha |
364 |
1.804 |
-29,18 |
-34,83 |
-12,71 |
43,29 |
3.157 |
15.593 |
73,08 |
189,08 |
|
Ấn Độ |
300 |
1.630 |
9,89 |
26,65 |
-59,46 |
-26,51 |
2.157 |
10.469 |
-31,48 |
10,00 |
|
Italia |
261 |
1.347 |
-13,00 |
-18,02 |
-23,46 |
19,41 |
2.208 |
11.064 |
48,69 |
149,70 |
|
Bỉ |
249 |
952 |
144,12 |
100,00 |
-25,23 |
25,10 |
1.587 |
6.257 |
-6,32 |
58,41 |
|
Anh |
203 |
1.035 |
153,75 |
152,44 |
150,62 |
287,64 |
524 |
2.599 |
58,79 |
194,67 |
|
Pháp |
180 |
956 |
-30,50 |
-32,49 |
29,50 |
95,90 |
1.404 |
7.235 |
120,75 |
275,06 |
|
Hồng Công |
160 |
782 |
-1,23 |
-6,79 |
14,29 |
85,31 |
788 |
3.985 |
55,73 |
164,96 |
|
Phần Lan |
101 |
526 |
0,00 |
-5,40 |
* |
* |
806 |
4.205 |
1915,00 |
2991,91 |
|
CH Séc |
80 |
413 |
122,22 |
151,83 |
0,00 |
62,60 |
356 |
1.750 |
28,99 |
94,44 |
|
Canada |
58 |
298 |
-1,69 |
-0,67 |
-1,69 |
57,67 |
375 |
1.915 |
-9,64 |
67,40 |
|
Thuỵ Điển |
40 |
233 |
0,00 |
6,88 |
100,00 |
187,65 |
161 |
838 |
33,06 |
121,11 |
|
Singapore |
0 |
0 |
-100 |
-100 |
* |
* |
81 |
381 |
* |
* |
|
Ucraina |
0 |
0 |
-100 |
-100 |
* |
* |
41 |
196 |
* |
* |
Tinthuongmai.vn
|