Thứ bảy, 9-3-2013, 15:19 GMT+7
 Xuất, nhập khẩu tháng 4 & 4 tháng 2012

           [  Ngày cập nhật:  15/5/2012 - 10h:50m GMT +7  ]

 Theo số liệu thống kê sơ bộ, hoạt động thương mại trong tháng 4 diễn biến khá trầm lắng với kim ngạch xuất và nhập khẩu đều giảm so với tháng trước, trong đó tốc độ giảm của xuất khẩu cao hơn đáng kể so với nhập khẩu, đưa cán cân thương mại trong tháng này quay trở lại trạng thái thâm hụt. Đây được coi là điều tất yếu sau nhiều tháng liên tiếp tốc độ tăng của kim ngạch nhập khẩu (trong đó chiếm tỷ trọng lớn là kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng phục vụ cho sản xuất) đều ở mức thấp hơn rất nhiều so với xuất khẩu - dấu hiệu rõ nét báo trước nguy cơ đình trệ trong hoạt động sản xuất những tháng tiếp theo. Theo đó, kim ngạch xuất, nhập khẩu trong tháng 4 ước đạt trên 18,5 tỷ USD, giảm 5% so với tháng trước, nâng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm 2012 lên xấp xỉ 67 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể tình hình xuất, nhập khẩu trong tháng 4 và 4 tháng qua như sau:

- Xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu trong tháng 4/2012 ước đạt 8,6 tỷ USD, giảm 9,3% so với tháng 3/2012 và tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (tính cả dầu thô) đạt gần 5,3 tỷ USD, giảm 8,3%, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước xuất khẩu hơn  3,3 tỷ USD, giảm 10,7% so với tháng trước. Trong đó, giảm mạnh nhất hầu hết tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: điện tử, máy tính và linh kiện giảm 20,9% (138 triệu USD), cà phê giảm 25% (107 triệu USD), dệt may giảm 7,3% (86 triệu USD), gỗ và sản phẩm gỗ giảm 16,7% (70 triệu USD), thủy sản giảm 7,4% (40 triệu USD) ... Nguyên nhân chính khiến kim ngạch xuất khẩu trong tháng qua ở mức thấp là do các doanh nghiệp gặp khó khăn về thị trường xuất khẩu trong khi giá một số mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng nông sản tiếp tục xu hướng giảm.

. Tính chung, kim ngạch xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm 2012 ước đạt 33,4 tỷ USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,65 tỷ USD, tăng 36,4% (không kể dầu thô thì tăng 44%) và các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước xuất khẩu 12,75 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2011.

Về hàng hóa, kim ngạch xuất khẩu của tất cả các nhóm, mặt hàng chủ lực trong tháng 4/2012 đều giảm mạnh so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất là nhóm công nghiệp chế biến với -12,6%. Tuy nhiên, tính chung trong 4 tháng, công nghiệp chế biến vẫn là nhóm hàng đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất về kim ngạch xuất khẩu, trong khi 2 nhóm còn lại đều giảm nhẹ.

- Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng “nông, lâm, thủy sản chủ yếu” ước đạt 6,45 tỷ USD, giảm 1,3% so với 4 tháng đầu năm 2011. Theo đó, tỷ trọng của nhóm hàng này trên tổng kim ngạch trong 4 tháng qua đã giảm mạnh từ 23,9% của cùng kỳ năm trước xuống chỉ còn 19,3%. Nguyên nhân chính khiến xuất khẩu nhóm hàng này đạt thấp là do lượng xuất khẩu gạo và cà phê giảm mạnh. Trong 4 tháng qua, lượng xuất khẩu gạo đã giảm tới 28% trong khi xuất khẩu cà phê giảm 7%.

- Các mặt hàng “nhiên liệu và khoáng sản chủ yếu” chỉ đạt kim ngạch 3,57 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 10,7% tỷ trọng xuất khẩu. Riêng trong tháng 4, xuất khẩu của nhóm hàng này đã giảm tới 22% xuống chỉ còn 994 triệu USD. Trong 4 tháng qua, xuất khẩu của tất cả các mặt hàng thuộc nhóm này đều giảm về lượng, trong đó giảm mạnh nhất là quặng và khoáng sản với mức giảm lên tới 73% về lượng và 4,5% về kim ngạch.

- Đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng của xuất khẩu từ đầu năm 2012 đến nay là nhờ vào nhóm “công nghiệp chế biến”. Trong 4 tháng qua, tốc độ tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này lên tới 40,5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tỷ trọng trên tổng kim ngạch xuất khẩu từ 54,9% lên 63,2%.

- Nhập khẩu

Kim ngạch nhập khẩu trong tháng 4/2012 ước đạt 9 tỷ USD, giảm 0,6% so với tháng 3/2012 và chỉ tăng nhẹ 0,1% so với tháng 4/2011. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4,65 tỷ USD, giảm 0,8%; các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước đạt 4,35 tỷ USD, giảm 0,4% so với tháng trước. Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu trong tháng này đều giảm so với tháng trước sau khi tăng liên tục từ tháng 1 đến nay. Giảm mạnh nhất là những mặt hàng nguyên liệu đầu vào trong lĩnh vực dệt may như bông (giảm 22%), vải (giảm 9,2%), sợi dệt (giảm 3,2%) và các mặt hàng thuộc nhóm phương tiện vận tải như ô tô nguyên chiếc (trừ xe dưới 9 chỗ) (giảm 46,9%), ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ (giảm 24,9%), xe máy nguyên chiếc (giảm 73,9%), phương tiện vận tải khác và phụ tùng (giảm 69,5%) ...

Tính chung trong 4 tháng đầu năm 2012, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá trên cả nước đạt 15,9 tỉ USD, tăng 11,8% so cùng kỳ năm 2011. Trong đó, nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,2 tỉ USD, tăng 36,8%; các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước đạt 7,7 tỉ USD, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm 2011

Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của nước ta trong 4 tháng qua cụ thể như sau:

+ Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa “cần thiết phải nhập khẩu” ước đạt 28,4 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 84,6% tỷ trọng nhập khẩu.

+ Kim ngạch các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa “cần thiết phải kiểm soát nhập khẩu”  đạt 1,44 tỷ USD, giảm 17,3% và chỉ chiếm 4,3% tỷ trọng so với con số 5,4% tỷ trọng của cùng kỳ năm trước,  Trong đó, mặt hàng giảm mạnh nhất là đá quý và kim loại quý với mức giảm lên tới 74% xuống còn 101 triệu USD.

+ Kim ngạch các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa “cần hạn chế nhập khẩu” đạt 1,7 tỷ USD, giảm 13,1% so với cùng kỳ, tỷ trọng trên tổng kim ngạch của nhóm hàng này cũng chỉ chiếm 5,1%, thấp hơn nhiều so với con số 6,2% cùng kỳ năm trước. Trong đó, tất cả các nhóm hàng bao gồm hàng tiêu dùng, điện thoại di động, ô tô và xe máy nguyên chiếc đều giảm.

- Nhập siêu:

Nhập siêu hàng hóa trong tháng 4/2012 ước đạt 400 triệu USD, nâng tổng mức nhập siêu trong 4 tháng đầu năm lên 200 triệu USD, chiếm 0,6% tổng giá trị xuất khẩu và thấp hơn rất nhiều so với con số nhập siêu gần 4,8 tỷ USD cùng kỳ năm trước.  

Ước tính kết quả xuất, nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2012(chưa kể xuất, nhập khẩu dịch vụ

 Đơn vị tính:  Số lượng 1.000 tấn, Trị giá: Triệu USD

 Tên hàng

Ước tính tháng 4/2012

SS T3/2012

Ước tính 4T/2012

SS cùng kỳ năm 2011

L

TG

L(%)

TG (%)

L

TG

L(%)

TG (%)

A.Tổng giá trị xuất khẩu

 

8.600

 

-9,3

 

33.406

 

22,1

Khu vực kinh tế trong nư­ớc

 

3.315

 

-10,7

 

12.756

 

4,3

Khu vực có vốn đầu tư­ NN

 

5.285

 

-8,3

 

20.650

 

36,4

Mặt hàng chủ yếu

 

 

 

 

 

 

 

 

Thủy sản

 

500

 

-7

 

1.803

 

13,3

Rau quả

 

50

 

-3,9

 

195

 

0,4

Hạt điều

17

115

6,6

6,7

54,0

372,0

33,0

26,5

Cà phê

150

320

-19,8

-25,1

650

1.386

-7,0

-7,8

Chè

10

15

-3,2

9,7

40

57

22,2

20,6

Hạt tiêu

18

120

-4,1

-6,3

49

330

18,0

56,0

Gạo

650

325

7,6

16,6

1.957

969

-28,1

-27,8

Sắn và sản phẩm của sắn

600

175

-3,0

0,0

1.860

548

30,9

13,1

Than đá

1.200

108

-11,1

-10,0

4.387

394

-5,5

-12,2

Dầu thô

687

685

-3,1

-4,8

2.416

2.360

-14,7

-3,1

Xăng dầu

180

190

-17,1

-15,4

763

775

-0,9

13,2

Quặng và khoáng sản

40

11

-48,2

-22,2

219,0

50,0

-73,2

-4,5

Hóa chất

 

28

 

-7,2

 

99

 

64,0

Sản phẩm hóa chất

 

20

 

-22,9

 

112

 

-36,5

Chất dẻo nguyên liệu

20

34

-11,7

-16,5

78

141

52,7

63,6

Sản phẩm từ chất dẻo

 

125

 

-13,2

 

494

 

24,3

Cao su

50

170

-9,2

-6,0

263

794

33,0

-8,3

Sản phẩm từ cao su

 

35

 

-8,2

 

132

 

35,8

Túi xách, ví, va li, mũ, ô dù

 

130

 

5,6

 

455

 

18,2

Tên hàng 

Ước tính tháng 4/2012

SS T3/2012

Ước tính 4T/2012

SS cùng kỳ năm 2011

L

TG

L(%)

TG (%)

 

L

TG

L(%)

Sản phẩm mây tre, cói, thảm

 

18

 

-5,1

 

69

 

6,6

Gỗ và sản phẩm gỗ

 

350

 

-16,7

 

1.378

 

20,5

Giấy và sản phẩm từ giấy

 

45

 

11,5

 

146

 

4,6

Dệt, may

 

1.100

 

-7,3

 

4.412

 

14,7

Xơ, sợi dệt các loại

45

140

-18,1

-13,7

190

565

17,9

-9,9

Giày dép

 

480

 

0,4

 

1.971

 

9,3

Sản phẩm gốm sứ

 

30

 

-15,1

 

132

 

16,7

Đá quý, KL quý  và sp

 

30

 

-46,4

 

155

 

0,3

Sắt thép

120

105

-23,2

-23,8

542

470

-13,0

-16,4

Kim loại thư­ờng khác

 

40

 

1,8

 

144

 

-8,8

Điện tử, máy tính và lk

 

520

 

-20,9

 

2.147

 

98,6

Điện thoại các loại và lk

 

800

 

-7,3

 

3.493

 

154,0

Máy móc, t/bị, dụng cụ PT

 

15

 

-10,9

 

61

 

-4,4

Dây điện và cáp điện

 

60

 

-10,9

 

253

 

-38,6

Phư­ơng tiện vận tải và phụ tùng

 

420

 

15,7

 

1.361

 

95,2

Hàng hoá khác

 

699

 

9,3

 

2.276

 

3,6

B.Tổng giá trị nhập khẩu

 

9.000

 

-0,6

 

33.582

 

4,4

Khu vực kinh tế trong n­ước

 

4.350

 

-0,4

 

16.136

 

-11,9

Khu vực có vốn đầu t­ư NN

 

4.650

 

-0,8

 

17.446

 

25,9

Mặt hàng chủ yếu

 

 

 

 

 

 

 

 

Thủy sản

 

60

 

10,6

 

217

 

53,4

Sữa và sản phẩm sữa

 

85

 

1,0

 

340

 

36,6

Rau quả

 

22

 

6,8

 

88

 

20,5

Lúa mỳ

230

66

-0,1

-18,2

1.014

302

28,6

14,4

Dầu mỡ động thực vật

 

110

 

93,6

 

268

 

-6,6

Thức ăn gia súc và NPL

 

165

 

5,0

 

628

 

-18,0

Xăng dầu

650

730

-14,3

-8,0

2.744

2.858

-33,6

-21,9

Khí đốt hóa lỏng

30

32

26,2

8,5

137

143

-51,0

-44,6

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

 

80

 

2,0

 

277

 

10,9

Hóa chất

 

250

 

-9,3

 

949

 

13,9

Sản phẩm hoá chất

 

100

 

-20,4

 

483

 

-34,4

Tân d­ược

 

120

 

3,9

 

468

 

5,5

Phân bón

230

101

1,8

0,9

838

362

-35,1

-24,3

Thuốc trừ sâu

 

55

 

4,5

 

203

 

-3,0

Chất dẻo

200

375

-7,7

-5,3

831

1.477

3,0

-1,5

Sản phẩm chất dẻo

 

170

 

-2,7

 

625

 

24,8

Cao su

25

80

-6,4

-4,6

116

303

7,5

9,0

Gỗ và NPL gỗ

 

170

 

27,0

 

502

 

38,0

Giấy các loại

100

105

0,7

10,4

368

364

7,4

7,1

Bông

30

67

-21,3

-22,0

119

275

-10,2

-35,7

Sợi dệt

45

110

-7,6

-3,2

191

435

-4,8

-19,0

Vải

 

550

 

-9,2

 

1.992

 

-6,8

NPL dệt may, giày dép

 

280

 

-0,5

 

945

 

2,8

Sắt thép

700

560

14,2

13,3

2.503

2.012

5,8

2,9

Kim loại thư­ờng khác

55

220

-1,8

1,5

203

794

-2,4

-7,0

Điện tử, máy tính và LK

 

850

 

-8,9

 

3.490

 

98,7

Ôtô nguyên chiếc (trừ xe d­ưới 9 chỗ)(*)

865

21

-6,8

-46,9

3.224,0

113,0

-53,3

-45,0

Ô tô nguyên chiếc d­ưới 9 chỗ(*)

935

11

-42,6

-28,4

5.893

56

-59,6

-69,8

Xe máy nguyên chiếc (*)

1.000

2

-79,0

-73,9

13.613

22

-50,1

-43,9

Linh kiện, phụ tùng ô tô

 

140

 

7,4

 

514

 

-20,3

Ph­ương tiện vận tải khác và phụ tùng

 

6

 

-69,5

 

78

 

-71,3

Máy móc thiết bị, DC, PT

 

1.250

 

0,5

 

4.623

 

-0,8

Điện thoại các loại và linh kiện (trừ ĐTDĐ)

 

272

 

14,1

 

963

 

164,9

Hàng hoá khác

 

535

 

-4,6

 

2.009

 

72,4

(*)Nghìn chiếc, triệu USD

 

 

 

 

 

 

 

 

In bài này  Gửi bạn bè Quay lại
Off Telex VNI VIQR 

     Các tin khác :
    Giá dầu giảm phiên thứ 5 liên tiếp [ 9/5/2012 ]
    Giá vàng xuống dưới 1.640 USD/ounce sau bầu cử ở châu Âu [ 8/5/2012 ]
    Cảnh báo nguy cơ bất ổn do giá lương thực tăng cao [ 8/5/2012 ]
    Hàng hóa xóa tan nỗ lực tăng giá kể từ đầu năm [ 8/5/2012 ]
    Giá xăng A92 thế giới đang giảm mạnh [ 8/5/2012 ]
    Giá cao su xuất khẩu sang Trung Quốc cao nhất 5 tháng [ 7/5/2012 ]
    Sau bầu cử tổng thống Pháp, giá dầu sụt mạnh xuống dưới 96 USD/thùng [ 7/5/2012 ]
    Giá hạt tiêu VN được lợi lớn nhờ giao dịch trên sàn Singapore [ 7/5/2012 ]
    Chỉ số tồn kho công nghiệp chế biến tăng hơn 32% [ 3/5/2012 ]
    Giá sữa Việt Nam ngược chiều thế giới [ 2/5/2012 ]