|
Theo số liệu thống kê chính thức, kim ngạch nhập khẩu hàng của của Việt Nam từ thị trường Nhật Bản đạt trên 960,95 triệu USD trong tháng 8/2011; so với tháng trước tăng 5,96%, đồng thời cũng tăng 28,42% so với tháng 8/2010. Tính chung, tổng kim ngạch nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản 8 tháng năm 2011 đạt xấp xỉ 6,6 tỷ USD, tăng 17,37% so với cùng kỳ năm ngoái.
|
Nhìn chung, xét về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản trong 8 tháng đầu năm nay không có sự thay đổi đáng kể nào, dẫn đầu vẫn là nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác chiếm tỷ trọng 27,06%; kim ngạch 1,78 tỷ USD và tăng 10,04% so với cùng kỳ năm ngoái; tiếp đến là nhóm hàng sắt thép các loại, kim ngạch đạt 1,06 tỷ USD chiếm 16,2%; nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 638,7 triệu USD, chiếm 9,71%...
Tính từ đầu năm 2011 đến nay, mặc dù thảm họa động đất và sóng thần ảnh hưởng đến thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản, tuy nhiên, Nhật Bản vẫn là một trong 3 thị trường lớn Việt Nam nhập khẩu hàng hóa trong thời gian qua, sau Trung Quốc và Hàn Quốc, chiếm 9,74% tổng kim ngạch nhập khẩu trong 8 tháng năm 2011 của cả nước.
Trong 8 tháng đầu năm 2011, 5 mặt hàng tiếp theo nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản đạt trên 200 triệu USD như: kim ngạch nhập khẩu linh kiện, phụ tùng ô tôi đạt trên 252,8 triệu USD, so với cùng kỳ 2010 tăng 4,84%; nhóm hàng vải các loại cũng tăng khá cao 50,04% và đạt 321,2 triệu USD; sản phẩm từ chất dẻo đạt trên 275,6 triệu USD, tăng nhẹ 8,22%; sản phẩm từ sắt thép đạt 231,8 triệu USD, tăng 1,7%; ngược lại nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu giảm nhẹ, giảm 0,42%, đạt 101,08 triệu USD.
Đáng chú ý, so với 8 tháng/2010, kim ngạch nhập khẩu các nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện, phương tiện vận tải khác và phụ tùng, xăng dầu các loại và phân bón các loại đạt mức tăng trưởng khá cao lần lượt là 112,89%, 150,26%, 82,34% và 71,6%.
Ngược lại, chỉ có kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm sút như kim loại thường khác giảm 21,06%, sản phẩm từ giấy giảm 24,1%, phế liệu sắt thép giảm 43,44%, thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 63,04% và nguyên phụ liệu dược phẩm giảm 39,6%.
Tính riêng, trong tháng 8/2011, các mặt hàng nước ta nhập khẩu từ Nhật Bản đạt kim ngạch tăng cao như: phân bón các loại với kim ngạch đạt 6,89 triệu USD, tăng 405,7%; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 135,8%, đạt 5,05 triệu USD; nhóm hàng dược phẩm đạt 2,3 triệu USD, tăng 516,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 528 nghìn USD, tăng 190,14%,….Bên cạnh đó, có những mặt hàng giảm sút như: phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt trên 1,2 triệu USD, giảm 95,7%; thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 70 nghìn USD, giảm 73,4% và nguyên phụ liệu dược phẩm đạt 24 nghìn USD, giảm 50,5%,…
Một số mặt hàng nhập khẩu từ thị trường Nhật Bản trong tháng 8 và 8 tháng năm 2011
|
Mặt hàng |
T8/2011 (nghìn USD) |
So T7/2011 (%) |
So T8/2010 (%) |
8 T/2011 (nghìn USD) |
So 8 T/2011 (%) |
|
Tổng |
960.952 |
5,96 |
28,42 |
6.579.266 |
17,37 |
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác |
267.012 |
18,95 |
25,70 |
1.780.303 |
10,04 |
|
Sắt thép các loại |
158.782 |
5,34 |
112,42 |
.065.829 |
54,09 |
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện |
113.694 |
18,45 |
21,94 |
638.714 |
-1,69 |
|
Linh kiện, phụ tùng ô tô |
46.611 |
15,98 |
32,24 |
252.831 |
4,84 |
|
Vải các loại |
45.266 |
-0,17 |
51,20 |
321.244 |
50,04 |
|
Sản phẩm từ chất dẻo |
44.493 |
18,71 |
43,56 |
275.631 |
8,22 |
|
Sản phẩm từ sắt thép |
33.839 |
2,77 |
12,11 |
231.871 |
1,70 |
|
Chất dẻo nguyên liệu |
27.706 |
7,81 |
6,62 |
201.081 |
-0,42 |
|
Hóa chất |
23.870 |
60,96 |
27,75 |
158.845 |
45,29 |
|
Sản phẩm hóa chất |
23.223 |
2,53 |
13,35 |
169.598 |
22,46 |
|
Kim loại thường khác |
18.088 |
27,10 |
24,24 |
103.455 |
-21,06 |
|
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày |
12.795 |
-4,68 |
23,11 |
109.179 |
34,46 |
|
Ô tô nguyên chiếc các loại |
10.808 |
20,43 |
-36,93 |
128.052 |
26,39 |
|
Dây điện và dây cáp điện |
10.060 |
-8,96 |
7,92 |
67.490 |
1,55 |
|
Linh kiện, phụ tùng xe máy |
8.722 |
1,06 |
22,66 |
56.547 |
-5,28 |
|
Sản phẩm từ kim loại thường khác |
8.635 |
14,85 |
74,65 |
55.612 |
53,35 |
|
Sản phẩm từ cao su |
8.442 |
28,64 |
11,94 |
49.459 |
5,79 |
|
Cao su |
7.683 |
-20,75 |
70,24 |
60.154 |
40,39 |
|
Phân bón các loại |
6.891 |
405,66 |
563,82 |
32.738 |
71,60 |
|
Giấy các loại |
5.617 |
29,75 |
-11,96 |
43.581 |
15,71 |
|
Sản phẩm khác từ dầu mỏ |
5.048 |
135,77 |
358,39 |
21.909 |
-3,76 |
|
Nguyên phụ liệu thuốc lá |
4.016 |
42,54 |
35,43 |
25.793 |
16,33 |
|
Sản phẩm từ giấy |
3.951 |
-18,86 |
-5,29 |
34.962 |
-24,10 |
|
Hàng thủy sản |
3.940 |
-35,97 |
48,01 |
23.186 |
21,19 |
|
Xơ, sợi dệt các loại |
3.588 |
51,65 |
146,99 |
19.051 |
51,68 |
|
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm |
2.826 |
28,17 |
60,87 |
16.743 |
14,21 |
|
Dược phẩm |
2.343 |
516,74 |
72,43 |
11.981 |
27,55 |
|
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu |
2.028 |
57,98 |
73,87 |
22.216 |
53,91 |
|
Phế liệu sắt thép |
1.928 |
-37,81 |
-69,29 |
12.266 |
-43,44 |
|
Điện thoại các loại và linh kiện |
1.576 |
-11,03 |
138,32 |
8.897 |
112,89 |
|
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng |
1.271 |
-95,73 |
-93,35 |
187.746 |
150,26 |
|
Hàng điện gia dụng và linh kiện |
618 |
18,48 |
-62,10 |
5.130 |
-6,61 |
|
Gỗ và sản phẩm gỗ |
528 |
190,14 |
45,62 |
3.562 |
5,63 |
|
Sữa và sản phẩm sữa |
80 |
37,67 |
-60,56 |
1.772 |
14,90 |
|
Thức ăn gia súc và nguyên liệu |
70 |
-73,44 |
-87,01 |
1.181 |
-68,04 |
|
Xe máy nguyên chiếc |
67 |
-22,05 |
30,91 |
608 |
22,51 |
|
Nguyên phụ liệu dược phẩm |
24 |
-50,45 |
|
336 |
-39,60 |
|
Xăng dầu các loại |
|
|
|
77.309 |
82,34 |
Đánh giá và dự báo:
Với ký Hiệp định đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản (EPA) được ký kết từ năm 2009 thoả thuận song phương bao quát mọi lĩnh vực hợp tác như thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, di chuyển lao động, hợp tác về tiêu chuẩn kỹ thuật... Hiệp định sẽ khuyến khích hoạt động hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản, phát huy hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của hai nước trong mối tương quan chung với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Theo hiệp định này, khoảng 92% hàng hóa sẽ được miễn thuế khi vào thị trường của mỗi bên trong vòng 10 năm. Hàng nông sản, may mặc và thủy sản của Việt Nam sẽ được miễn thuế khi vào thị trường Nhật. Trong khi đó, hàng công nghiệp, gồm cả phụ tùng ôtô và sản phẩm điện tử của nước này khi vào Việt Nam được miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu.
Chính vì vậy mà trong thời gian qua nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Nhật Bản vào Việt Nam tăng mạnh, Nhật Bản hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam với kim ngạch đạt trên 12 tỷ USD. Dự kiến năm nay, kim ngạch thương mại hai nước sẽ đạt trên 15 tỷ USD, vượt 2 năm so với thời hạn 2010 mà lãnh đạo cấp cao
hai nước đề ra. Sau một số chuyến công tác và làm việc giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản, hai Bộ đều có mong muốn trao đổi thông tin và hỗ trợ lẫn nhau về chính sách phát triển lĩnh vực phân phối và logistics, tạo mọi điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực nói trên của hai nước.
Hiện nay có trên 1.500 doanh nghiệp Nhật Bản đang làm ăn tại nước ta, trong đó khoảng 900 doanh nghiệp đã đăng ký tham gia Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Hai nước cũng đang tích cực hợp tác trong các dự án lớn về xây dựng hạ tầng giao thông, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực… Trong lĩnh vực phân phối, nhiều doanh nghiệp lớn của Nhật Bản đã tham gia thị trường hoặc đang tìm hiểu về cơ chế chính sách về đầu tư và phân phối để phát triển kinh doanh tại Việt Nam.
Do đó, dự báo trong thời gian tới Nhật Bản vẫn là 1 trong những thị trường chủ chốt cung cấp hàng hóa cho Việt Nam, đăc biệt là nhập khẩu các mặt hàng như máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác, sắt thép các loại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện và linh kiện, phụ tùng ô tô,...vẫn tiếp tục tăng.
Quý khách có nhu cầu xem chi tiết xin liên hệ với:
Ms:Lan Huong
ADVERTISING DEPARTMENT
ONLINE NEWSPAPER - http://www.tinthuongmai.vn 76 Nguyen Truong To - Ba Dinh - Ha Noi - Viet Nam Tel: + 84 4 37150491 Fax: + 84 4 37150829 Mobile: 0912.053.291 Email: lanhuongtom@gmail.com
|
|