Dự báo, trong thời gian tới, nhập khẩu dược phẩm và nguyên phụ liệu sẽ giảm do giá thế giới đang có xu thế giảm, đồng thời, do nhập khẩu trong tháng 8 đã tăng mạnh so với tháng trước đó.
1. Tình hình nhập khẩu dược phẩm và nguyên phụ liệu
Theo số liệu thống kê, nhập khẩu thuốc thành phẩm của nước ta trong tháng 8 năm 2011 đạt 147,3 triệu USD, tăng 36% so với tháng trước và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2010. Đây là tháng có kim ngạch nhập khẩu cao nhất từ trước tới nay. Đây cũng là tháng có kim ngạch nhập khẩu tăng sau 2 tháng giảm liên tiếp.
Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu thuốc thành phẩm của nước ta đạt 976,2 triệu USD, tăng 18,96% so với cùng kỳ năm 2010.
Đối với nguyên phụ liệu: nhập khẩu mặt hàng này trong tháng 8 của nước ta đạt 13,6 triệu USD, giảm 18,1% so với tháng trước và giảm 3,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tháng có kim ngạch nhập khẩu thấp thứ 2 tính từ đầu năm (Trừ tháng 2 chỉ đạt 12 triệu USD).
Tính chung, trong 8 tháng đầu năm, nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm của nước ta đạt 134,4 triệu USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2010.
Về giá, đa số các chủng loại thuốc nhập khẩu trong tháng 8 vẫn có giá tương đối ổn định. Cụ thể, thuốc CEFOLATAM dạng hộp nhập từ Hàn Quốc vẫn đứng giá ở mức 3,2 USD/lọ; thuốc CEREBROLYSIN dạng hộp 5 ống nhập từ Áo giá 18,7 USD/hộp; thuốc CEFEPIMA LIBRA dạng gói nhập từ Uruguay giá 6,7 USD/lọ...
Chỉ có một vài chủng loại có giá nhập khẩu giảm như nguyên liệu sản xuất thuốc kháng sinh Amoxicillin nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 27 USD/kg, giảm 1 USD/kg so với tháng trước.
Về thị trường, trong tháng 8, nhập khẩu thuốc thành phẩm từ hầu hết các thị trường đều tăng mạnh. Trong đó, tăng mạnh nhất là thị trường Bỉ với mức tăng 302,2% so với tháng trước và tăng 72,6% so với cùng kỳ năm 2010; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với mức tăng 72,6% so với tháng trước và tăng 110,9% so với cùng kỳ năm 2010; đứng thứ 3 là thị trường Anh với mức tăng 63,2% so với tháng trước và tăng 115,4% so với cùng kỳ năm 2010,... Đáng chú ý là với mức tăng 23,9% so với tháng trước và tăng 59,2% so với cùng kỳ năm 2010, ấn Độ vượt Pháp, trở thành nhà cung cấp thuốc hàng đầu của nước ta trong tháng 8.
Một số thị trường có kim ngạch nhập khẩu thuốc giảm trong tháng 8 là Đức với mức giảm 19,6%, Thụy Sỹ giảm 14,05% và Trung Quốc giảm 1,38% so với tháng 7.
Tuy nhiên, trong 8 tháng đầu năm 2011, trừ Thụy Điển và Nga, các thị trường khác đều có kim ngạch nhập khẩu thuốc tăng mạnh. Trong đó, Pháp vẫn là nhà cung cấp thuốc thành phẩm lớn nhất của nước ta với kim ngạch 156,3 triệu USD, tăng 19,25% so với cùng kỳ. Đứng thứ 2 là thị trường Ấn Độ với kim ngạch 146,5 triệu USD, tăng 34,18% so với cùng kỳ; đứng thứ 3 là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch 102,8 triệu USD, tăng 2,34% so với cùng kỳ năm 2010 và đứng thứ 4 là thị trường Đức với kim ngạch 76,6 triệu USD trong 8 tháng đầu năm 2011.
Tham khảo các thị trường nhập khẩu tân dược của nước ta
|
Thị trường |
T 8/2011 (nghìn USD) |
So tháng 7/2011 (%) |
So tháng 8/2010 (%) |
8 T/2011 (nghìn USD) |
So 8 tháng 2010 (%) |
|
Ấn Độ |
20.776 |
23,92 |
59,22 |
146.533 |
34,18 |
|
Pháp |
19.480 |
14,43 |
5,69 |
156.283 |
19,25 |
|
Hàn Quốc |
18.432 |
72,86 |
110,89 |
102.794 |
2,34 |
|
Đức |
10.195 |
-10,59 |
21,35 |
76.670 |
14,95 |
|
Bỉ |
8.714 |
302,12 |
72,59 |
30.258 |
12,23 |
|
Italia |
8.200 |
24,64 |
17,01 |
44.516 |
18,39 |
|
Anh |
6.298 |
63,25 |
115,46 |
35.033 |
19,21 |
|
Ôxtraylia |
4.402 |
66,87 |
59,72 |
23.832 |
35,75 |
|
Thái Lan |
3.711 |
10,94 |
-17,83 |
28.406 |
3,67 |
|
Thụy Sỹ |
3.462 |
-14,05 |
-23,56 |
35.644 |
14,20 |
|
Áo |
3.461 |
50,87 |
76,58 |
19.859 |
35,74 |
|
Hoa Kỳ |
3.263 |
36,19 |
-27,41 |
40.745 |
39,06 |
|
CH Ailen |
3.198 |
110,12 |
|
20.234 |
|
|
Trung Quốc |
2.920 |
-1,38 |
30,53 |
20.670 |
9,41 |
|
Thụy Điển |
2.644 |
464,96 |
7,57 |
11.912 |
-20,54 |
|
Đài Loan |
2.485 |
49,70 |
28,42 |
16.642 |
22,00 |
|
Nhật Bản |
2.343 |
518,21 |
72,41 |
11.980 |
27,54 |
|
Tây Ban Nha |
2.003 |
194,13 |
59,35 |
11.284 |
5,90 |
|
Hungari |
1.909 |
-33,97 |
|
17.571 |
|
|
Pakixtan |
1.802 |
91,09 |
|
8.312 |
|
|
Indonexia |
1.797 |
56,40 |
50,00 |
11.362 |
50,87 |
|
Malaixia |
1.544 |
219,01 |
232,04 |
5.685 |
6,20 |
|
Hà Lan |
1.533 |
23,63 |
9,42 |
12.892 |
28,18 |
|
Achentina |
1.389 |
-7,34 |
6,52 |
11.512 |
18,21 |
|
Ba Lan |
1.383 |
31,34 |
58,60 |
9.001 |
10,18 |
|
Xinhgapo |
981 |
19,34 |
-15,06 |
7.920 |
41,10 |
|
Đan Mạch |
928 |
72,17 |
301,73 |
5.524 |
90,35 |
|
Thổ Nhĩ Kỳ |
895 |
1,02 |
|
5.243 |
|
|
Nga |
519 |
371,82 |
-14,50 |
2.597 |
-4,45 |
|
Philippin |
506 |
-52,22 |
-39,62 |
4.529 |
5,13 |
|
Canada |
318 |
-42,91 |
-22,06 |
4.027 |
6,42 |
Đối với nguyên phụ liệu, do tổng kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8 giảm lên kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các thị trường đều giảm. Trong đó, giảm mạnh nhất là thị trường Italia với mức giảm 75% so với tháng trước và 37% so với cùng kỳ; tiếp theo là thị trường Tây Ban Nha với mức giảm 44,18% so với tháng trước và giảm 24,36% so với cùng kỳ; đứng thứ 3 là thị trường Ấn Độ với mức giảm 39,56% so với tháng trước nhưng tăng 2,14% so với cùng kỳ năm 2010.
Ngược lại, nhập khẩu nguyên phụ liệu từ các thị trường Trung Quốc, Thụy Sỹ và Pháp lại có mức tăng trong tháng 8. Trong đó tăng mạnh nhất là thị trường Thụy Sỹ khi tăng tới 702% so với tháng trước; các thị trường Pháp và Trung Quốc có mức tăng thấp hơn, lần lượt là 61,33% và 1,15% so với tháng 7.
Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm từ hầu hết các thị trường đều giảm. Tuy giảm 1,59% so với cùng kỳ năm 2010 nhưng Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm lớn nhất của nước ta, đạt 56,9 triệu USD. Các thị trường khác có kim ngạch giảm là Thụy Sỹ giảm 17,05%; Pháp giảm 48,32%; Đức giảm 34,47%; Italia giảm 1,74% so với cùng kỳ năm 2010. Ngược lại, hai thị trường đứng thứ 2 và 3 là Ấn độ và Tây Ban Nha đều có kim ngạch nhập khẩu tăng khá so với cùng kỳ, với mức tăng lần lượt là 13,85% và 15,5%
Tham khảo các thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm của nước ta
|
Thị trường |
T 8/2011 (nghìn USD) |
So tháng 7/2011 (%) |
So tháng 8/2010 (%) |
8 T/2011 (nghìn USD) |
So 8 tháng 2010 (%) |
|
Trung Quốc |
6.532 |
1,15 |
-9,93 |
56.972 |
-1,59 |
|
Ấn Độ |
3.434 |
-39,56 |
2,14 |
34.576 |
13,85 |
|
Tây Ban Nha |
978 |
-44,18 |
-24,36 |
11.858 |
15,50 |
|
Thụy Sỹ |
570 |
702,82 |
86,89 |
2.933 |
-17,05 |
|
Hàn Quốc |
288 |
-10,00 |
72,46 |
2.432 |
29,71 |
|
Pháp |
242 |
61,33 |
-46,10 |
2.396 |
-48,32 |
|
Đức |
240 |
-28,57 |
37,14 |
1.941 |
-34,47 |
|
Italia |
231 |
-75,21 |
-37,57 |
4.190 |
-1,74 |
|
Anh |
202 |
22,42 |
78,76 |
1.648 |
15,33 |
|
Nhật Bản |
23 |
-52,08 |
|
335 |
-38,76 |
|
Áo |
1 |
-99,43 |
-98,72 |
855 |
-37,50 |
2. Tình hình trong nước
Hiệp hội kinh doanh dược Việt Nam đánh giá tình hình thị trường dược phẩm từ 20/8 đến 20/9 nhìn chung ổn định.
Qua khảo sát thị trường thuốc nội tại khu vực Hà Nội cho thấy, trong số 4.785 lượt mặt hàng được khảo sát có 22 lượt mặt hàng tăng giá chiếm tỷ lệ 0,25 %, với tỷ lệ tăng trung bình khoảng 6,58% và 10 lượt mặt hàng giảm giá chiếm tỷ lệ 0,25% với tỷ lệ giảm trung bình khoảng 7,5%.
Điển hình một số thuốc nội giảm giá là: Antibio giảm từ 205.000 đ/hộp xuống 200.000 đ/hộp; Terpin Codein từ 129.000 đ/lọ xuống 115.000 đ/lọ; Vinaga từ 49.600 đ/lọ xuống 48.000 đ/lọ; Pacemin giảm từ 2.100 đ/vỉ xuống 1.890 đ/vỉ…
Khảo sát 2.000 lượt mặt hàng tân dược tại khu vực miền Trung, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy, nhìn chung các mặt hàng đều ổn định.
Về mặt hàng thuốc ngoại, trong tháng qua nhìn chung giá cũng tương đối ổn định. Qua khảo sát 4.785 lượt mặt hàng có 13 lượt mặt hàng tăng giá 06 lượt mặt hàng giảm giá.
Cụ thể, tăng giá nhiều nhất là các loại thuốc như thuốc Aprovel 150mg tăng từ 269.000 đồng lên 294.000 đồng/hộp, thuốc Plavix 75mg tăng từ 396.000 đồng lên 408.000 đồng/hộp, thuốc Dogmatin 5mg tăng 115.000 đồng lên 126.840 đồng/hộp...
Một số loại thuốc ngoại giảm giá là Augementin 1g giảm từ 248.000 đồng/hộp xuống 242.000 đồng/hộp; Furoxingo 500mg từ 50.000 đồng/hộp xuống 48.000 đồng/hộp; Amiodame 200mg từ 120.000 đồng/hộp xuống 107.000 đồng/hộp….
Dự báo trong tháng tới, thị trường dược phẩm trong nước tiếp tục ổn định, giá các mặt hàng nguyên liệu có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm nhẹ. Một số mặt hàng thuốc sản xuất trong nước có thể tăng do các yếu tố đầu vào cho sản xuất như điện, nguyên phụ liệu, xăng dầu, chi phí vận tải… đều tăng.
- Rút số đăng ký, đình chỉ lưu hành nhiều loại thuốc
Cục Quản lý dược vừa có văn bản thông báo rút số đăng ký lưu hành và đình chỉ lưu hành nhiều loại thuốc. Trong đó, chủ yếu là các loại thuốc nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ.
Theo đó, viên nén bao tan trong ruột Seachfol - Z, số đăng ký VN-2664-07, do Công ty Brawn Laboratories, Ấn Độ đăng ký, Công ty Oversea Laboratories Ấn Độ sản xuất; viên nén bao phim Tinidazole 500mg, số đăng ký VN- 7891-09, Công ty XL Laboratories Ấn Độ sản xuất bị rút số đăng ký lưu hành tại thị trường Việt Nam. Lý do là thuốc không đạt chỉ tiêu chất lượng về độ hòa tan.
Dịp này, Cục Quản lý dược cũng đình chỉ lưu hành trên toàn quốc viên nang Omemed-20, lô OMM011, hạn dùng 27-12-2012, số đăng ký VN-2817-07, Công ty Medico Remedies, Ấn Độ sản xuất, Công ty cổ phần Dược liệu trung ương 2 nhập khẩu; viên nén Deltasolone, số đăng ký VN-10359-05, Công ty Sunward Singapore sản xuất, Công ty cổ phần Dược - thiết bị y tế Đà Nẵng nhập khẩu do không đạt chỉ tiêu chất lượng.
Với bột trị đau bao tử Thái Điền- 50g, lô 021210, hạn dùng 12-2012, số đăng ký V1070-H12-10 do cơ sở Thanh Hải, thành phố Hồ Chí Minh sản xuất cũng bị đình chỉ lưu hành do không đạt chỉ tiêu về độ nhiễm khuẩn.
Quý khách có nhu cầu xem chi tiết xin liên hệ với:
Ms:Lan Huong
ADVERTISING DEPARTMENT
ONLINE NEWSPAPER - http://www.tinthuongmai.vn
76 Nguyen Truong To - Ba Dinh - Ha Noi - Viet Nam
Tel: + 84 4 37150491
Fax: + 84 4 37150829
Mobile: 0912.053.291
Email: lanhuongtom@gmail.com