Thứ Năm, ngày 23/02/2012   
 
DƯỢC PHẨM, TB Y TẾ
Nhập khẩu dược phẩm trong tháng 8 đạt kỷ lục
Thứ Ba, ngày 22/11/2011

Trong tháng 8, nhập khẩu thuốc thành phẩm của nước ta đạt mức cao nhất từ trước đến nay do nhu cầu trong nước tăng mạnh. Tuy nhiên, giá thuốc nhập khẩu có dấu hiệu giảm so với tháng trước. Trái lại, nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm tiếp tục giảm so với tháng trước và là tháng thứ ba liên tiếp có kim ngạch giảm. Đây là tháng có kim ngạch thấp thứ 2 từ đầu năm đến nay.


Dự báo, trong thời gian tới, nhập khẩu dược phẩm và nguyên phụ liệu sẽ giảm do giá thế giới đang có xu thế giảm, đồng thời, do nhập khẩu trong tháng 8 đã tăng mạnh so với tháng trước đó.

1. Tình hình nhập khẩu dược phẩm và nguyên phụ liệu

Theo số liệu thống kê, nhập khẩu thuốc thành phẩm của nước ta trong tháng 8 năm 2011 đạt 147,3 triệu USD, tăng 36% so với tháng trước và tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2010. Đây là tháng có kim ngạch nhập khẩu cao nhất từ trước tới nay. Đây cũng là tháng có kim ngạch nhập khẩu tăng sau 2 tháng giảm liên tiếp.

Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu thuốc thành phẩm của nước ta đạt 976,2 triệu USD, tăng 18,96% so với cùng kỳ năm 2010.

Đối với nguyên phụ liệu: nhập khẩu mặt hàng này trong tháng 8 của nước ta đạt 13,6 triệu USD, giảm 18,1% so với tháng trước và giảm 3,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là tháng có kim ngạch nhập khẩu thấp thứ 2 tính từ đầu năm (Trừ tháng 2 chỉ đạt 12 triệu USD).

      Tính chung, trong 8 tháng đầu năm, nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm của nước ta đạt 134,4 triệu USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2010.

Về giá, đa số các chủng loại thuốc nhập khẩu trong tháng 8 vẫn có giá tương đối ổn định. Cụ thể, thuốc CEFOLATAM dạng hộp nhập từ Hàn Quốc vẫn đứng giá ở mức 3,2 USD/lọ; thuốc CEREBROLYSIN dạng hộp 5 ống nhập từ Áo giá 18,7 USD/hộp; thuốc CEFEPIMA LIBRA dạng gói nhập từ Uruguay giá 6,7 USD/lọ...

Chỉ có một vài chủng loại có giá nhập khẩu giảm như nguyên liệu sản xuất thuốc kháng sinh Amoxicillin nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 27 USD/kg, giảm 1 USD/kg so với tháng trước.

Về thị trường, trong tháng 8, nhập khẩu thuốc thành phẩm từ hầu hết các thị trường đều tăng mạnh. Trong đó, tăng mạnh nhất là thị trường Bỉ với mức tăng 302,2% so với tháng trước và tăng 72,6% so với cùng kỳ năm 2010; tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với mức tăng 72,6% so với tháng trước và tăng 110,9% so với cùng kỳ năm 2010; đứng thứ 3 là thị trường Anh với mức tăng 63,2% so với tháng trước và tăng 115,4% so với cùng kỳ năm 2010,... Đáng chú ý là với mức tăng 23,9% so với tháng trước và tăng 59,2% so với cùng kỳ năm 2010, ấn Độ vượt Pháp, trở thành nhà cung cấp thuốc hàng đầu của nước ta trong tháng 8.

Một số thị trường có kim ngạch nhập khẩu thuốc giảm trong tháng 8 là Đức với mức giảm 19,6%, Thụy Sỹ giảm 14,05% và Trung Quốc giảm 1,38% so với tháng 7.

Tuy nhiên, trong 8 tháng đầu năm 2011, trừ Thụy Điển và Nga, các thị trường khác đều có kim ngạch nhập khẩu thuốc tăng mạnh. Trong đó, Pháp vẫn là nhà cung cấp thuốc thành phẩm lớn nhất của nước ta với kim ngạch 156,3 triệu USD, tăng 19,25% so với cùng kỳ. Đứng thứ 2 là thị trường Ấn Độ với kim ngạch 146,5 triệu USD, tăng 34,18% so với cùng kỳ; đứng thứ 3 là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch 102,8 triệu USD, tăng 2,34% so với cùng kỳ năm 2010 và đứng thứ 4 là thị trường Đức với kim ngạch 76,6 triệu USD trong 8 tháng đầu năm 2011.

Tham khảo các thị trường nhập khẩu tân dược của nước ta

Thị tr­ường

T 8/2011 (nghìn USD)

So tháng 7/2011 (%)

So tháng 8/2010 (%)

 8 T/2011 (nghìn USD)

So 8 tháng 2010 (%)

Ấn Độ

20.776

23,92

59,22

146.533

34,18

Pháp

19.480

14,43

5,69

156.283

19,25

Hàn Quốc

18.432

72,86

110,89

102.794

2,34

Đức

10.195

-10,59

21,35

76.670

14,95

Bỉ

8.714

302,12

72,59

30.258

12,23

Italia

8.200

24,64

17,01

44.516

18,39

Anh

6.298

63,25

115,46

35.033

19,21

Ôxtraylia

4.402

66,87

59,72

23.832

35,75

Thái Lan

3.711

10,94

-17,83

28.406

3,67

Thụy Sỹ

3.462

-14,05

-23,56

35.644

14,20

Áo

3.461

50,87

76,58

19.859

35,74

Hoa Kỳ

3.263

36,19

-27,41

40.745

39,06

CH Ailen

3.198

110,12

 

20.234

 

Trung Quốc

2.920

-1,38

30,53

20.670

9,41

Thụy Điển

2.644

464,96

7,57

11.912

-20,54

Đài Loan

2.485

49,70

28,42

16.642

22,00

Nhật Bản

2.343

518,21

72,41

11.980

27,54

Tây Ban Nha

2.003

194,13

59,35

11.284

5,90

Hungari

1.909

-33,97

 

17.571

 

Pakixtan

1.802

91,09

 

8.312

 

Indonexia

1.797

56,40

50,00

11.362

50,87

Malaixia

1.544

219,01

232,04

5.685

6,20

Hà Lan

1.533

23,63

9,42

12.892

28,18

Achentina

1.389

-7,34

6,52

11.512

18,21

Ba Lan

1.383

31,34

58,60

9.001

10,18

Xinhgapo

981

19,34

-15,06

7.920

41,10

Đan Mạch

928

72,17

301,73

5.524

90,35

Thổ Nhĩ Kỳ

895

1,02

 

5.243

 

Nga

519

371,82

-14,50

2.597

-4,45

Philippin

506

-52,22

-39,62

4.529

5,13

Canada

318

-42,91

-22,06

4.027

6,42

Đối với nguyên phụ liệu, do tổng kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8 giảm lên kim ngạch nhập khẩu của hầu hết các thị trường đều giảm. Trong đó, giảm mạnh nhất là thị trường Italia với mức giảm 75% so với tháng trước và 37% so với cùng kỳ; tiếp theo là thị trường Tây Ban Nha với mức giảm 44,18% so với tháng trước và giảm 24,36% so với cùng kỳ; đứng thứ 3 là thị trường Ấn Độ với mức giảm 39,56% so với tháng trước nhưng tăng 2,14% so với cùng kỳ năm 2010.

Ngược lại, nhập khẩu nguyên phụ liệu từ các thị trường Trung Quốc, Thụy Sỹ và Pháp lại có mức tăng trong tháng 8. Trong đó tăng mạnh nhất là thị trường Thụy Sỹ khi tăng tới 702% so với tháng trước; các thị trường Pháp và Trung Quốc có mức tăng thấp hơn, lần lượt là 61,33% và 1,15% so với tháng 7.

Tính chung, trong 8 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm từ hầu hết các thị trường đều giảm. Tuy giảm 1,59% so với cùng kỳ năm 2010 nhưng Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm lớn nhất của nước ta, đạt 56,9 triệu USD. Các thị trường khác có kim ngạch giảm là Thụy Sỹ giảm 17,05%; Pháp giảm 48,32%; Đức giảm 34,47%; Italia giảm 1,74% so với cùng kỳ năm 2010. Ngược lại, hai thị trường đứng thứ 2 và 3 là Ấn độ và Tây Ban Nha đều có kim ngạch nhập khẩu tăng khá so với cùng kỳ, với mức tăng lần lượt là 13,85% và 15,5%

Tham khảo các thị trường nhập khẩu nguyên phụ liệu dược phẩm của nước ta

Thị tr­ường

T 8/2011 (nghìn USD)

So tháng 7/2011 (%)

So tháng 8/2010 (%)

 8 T/2011 (nghìn USD)

So 8 tháng 2010 (%)

Trung Quốc

6.532

1,15

-9,93

56.972

-1,59

Ấn Độ

3.434

-39,56

2,14

34.576

13,85

Tây Ban Nha

978

-44,18

-24,36

11.858

15,50

Thụy Sỹ

570

702,82

86,89

2.933

-17,05

Hàn Quốc

288

-10,00

72,46

2.432

29,71

Pháp

242

61,33

-46,10

2.396

-48,32

Đức

240

-28,57

37,14

1.941

-34,47

Italia

231

-75,21

-37,57

4.190

-1,74

Anh

202

22,42

78,76

1.648

15,33

Nhật Bản

23

-52,08

 

335

-38,76

Áo

1

-99,43

-98,72

855

-37,50

 2. Tình hình trong nước

Hiệp hội kinh doanh dược Việt Nam đánh giá tình hình thị trường dược phẩm từ 20/8 đến 20/9 nhìn chung ổn định.

Qua khảo sát thị trường thuốc nội tại khu vực Hà Nội cho thấy, trong số 4.785 lượt mặt hàng được khảo sát có 22 lượt mặt hàng tăng giá chiếm tỷ lệ 0,25 %, với tỷ lệ tăng trung bình khoảng 6,58% và 10 lượt mặt hàng giảm giá chiếm tỷ lệ 0,25% với tỷ lệ giảm trung bình khoảng 7,5%.

Điển hình một số thuốc nội giảm giá là: Antibio giảm từ 205.000 đ/hộp xuống 200.000 đ/hộp; Terpin Codein từ 129.000 đ/lọ xuống 115.000 đ/lọ; Vinaga từ 49.600 đ/lọ xuống 48.000 đ/lọ; Pacemin giảm từ 2.100 đ/vỉ xuống 1.890 đ/vỉ…

Khảo sát 2.000 lượt mặt hàng tân dược tại khu vực miền Trung, thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy, nhìn chung các mặt hàng đều ổn định.

Về mặt hàng thuốc ngoại, trong tháng qua nhìn chung giá cũng tương đối ổn định. Qua khảo sát 4.785 lượt mặt hàng có 13 lượt mặt hàng tăng giá 06 lượt mặt hàng giảm giá.

Cụ thể, tăng giá nhiều nhất là các loại thuốc như thuốc Aprovel 150mg tăng từ 269.000 đồng lên 294.000 đồng/hộp, thuốc Plavix 75mg tăng từ 396.000 đồng lên 408.000 đồng/hộp, thuốc Dogmatin 5mg tăng 115.000 đồng lên 126.840 đồng/hộp...

Một số loại thuốc ngoại giảm giá là Augementin 1g giảm từ 248.000 đồng/hộp xuống 242.000 đồng/hộp; Furoxingo 500mg từ 50.000 đồng/hộp xuống 48.000 đồng/hộp; Amiodame 200mg từ 120.000 đồng/hộp xuống 107.000 đồng/hộp….

Dự báo trong tháng tới, thị trường dược phẩm trong nước tiếp tục ổn định, giá các mặt hàng nguyên liệu có thể điều chỉnh tăng hoặc giảm nhẹ. Một số mặt hàng thuốc sản xuất trong nước có thể tăng do các yếu tố đầu vào cho sản xuất như điện, nguyên phụ liệu, xăng dầu, chi phí vận tải… đều tăng.

- Rút số đăng ký, đình chỉ lưu hành nhiều loại thuốc

Cục Quản lý dược vừa có văn bản thông báo rút số đăng ký lưu hành và đình chỉ lưu hành nhiều loại thuốc. Trong đó, chủ yếu là các loại thuốc nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ.

Theo đó, viên nén bao tan trong ruột Seachfol - Z, số đăng ký VN-2664-07, do Công ty Brawn Laboratories, Ấn Độ đăng ký, Công ty Oversea Laboratories Ấn Độ sản xuất; viên nén bao phim Tinidazole 500mg, số đăng ký VN- 7891-09, Công ty XL Laboratories Ấn Độ sản xuất bị rút số đăng ký lưu hành tại thị trường Việt Nam. Lý do là thuốc không đạt chỉ tiêu chất lượng về độ hòa tan.

Dịp này, Cục Quản lý dược cũng đình chỉ lưu hành trên toàn quốc viên nang Omemed-20, lô OMM011, hạn dùng 27-12-2012, số đăng ký VN-2817-07, Công ty Medico Remedies, Ấn Độ sản xuất, Công ty cổ phần Dược liệu trung ương 2 nhập khẩu; viên nén Deltasolone, số đăng ký VN-10359-05, Công ty Sunward Singapore sản xuất, Công ty cổ phần Dược - thiết bị y tế Đà Nẵng nhập khẩu do không đạt chỉ tiêu chất lượng.

Với bột trị đau bao tử Thái Điền- 50g, lô 021210, hạn dùng 12-2012, số đăng ký V1070-H12-10 do cơ sở Thanh Hải, thành phố Hồ Chí Minh sản xuất cũng bị đình chỉ lưu hành do không đạt chỉ tiêu về độ nhiễm khuẩn.

Quý khách có nhu cầu xem chi tiết xin liên hệ với:

Ms:Lan Huong

ADVERTISING DEPARTMENT

ONLINE NEWSPAPER - http://www.tinthuongmai.vn
76 Nguyen Truong To - Ba Dinh - Ha Noi - Viet Nam
Tel: + 84 4 37150491
Fax: + 84 4 37150829
Mobile: 0912.053.291
Email: lanhuongtom@gmail.com

  
Bản in
 ">

THÔNG TIN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - VIETNAM BUSINESS NEWS
Trang chủ | Liên hệ | Quảng cáo | Giới thiệu |